Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thư ngỏ gửi Đại sứ Tề Kiến Quốc
Cách đây hơn ba tuần, một người bạn của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, theo đề nghị của ông, mang đến trao cho tôi lá thư của Thiếu tướng gửi ông Đại sứ Trung Quốc Tề Kiến Quốc nhờ đăng lên Bauxite Việt Nam. Rất tiếc vì phải chuẩn bị đi cứu trợ bão lụt rất gấp nên việc đăng lá thư của ông đành để chậm lại.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh mà tôi có dịp gặp gỡ ít lâu sau ngày sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm nay, là một nhà cách mạng lão thành đã trên 90 tuổi đời nhưng còn hồng hào khỏe mạnh, đi lại nhanh nhẹn, suy nghĩ hết sức minh mẫn và luôn luôn có thái độ dứt khoát, không ngập ngừng do dự trong tư tưởng. Đi theo Đảng gần hết cả cuộc đời nhưng ông vẫn hiểu cái vẫy gọi mình lớn nhất là lòng yêu nước. Lợi ích đất nước và dân tộc, theo ông phải đặt lên trên hết và là mục tiêu hàng đầu, lâu dài vĩnh viễn cho mọi thế hệ con cháu.
Là người có nhiều năm làm Đại sứ ở Trung Quốc, ông cũng hiểu rõ “tính cách Trung Hoa” đến chân tơ kẽ tóc, nên mỗi lời ông nói ra về cái gọi là “hữu nghị Trung – Việt” do ngài Đại sứ Trung Quốc phát biểu với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, đều bắt nguồn từ kinh nghiệm tiếp xúc thực tế của chính mình với các quan chức Trung Quốc đủ hạng trong suốt những năm ông làm việc tại Bắc Kinh. Tuy thư vẫn giữ một tác phong nhã nhặn, lịch thiệp đối với ngài Đại sứ nước láng giềng, chúng ta đều cảm nhận được cơn giận ghê gớm nén lại bên trong lòng ông về sự dối trá sống sượng trong ngôn từ hào nhoáng của người ông đối thoại.
………………….
Dưới đây, trân trọng giới thiệu thư ngỏ của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Tề Kiến Quốc cùng ảnh chụp văn bản có chữ ký của ông để bạn đọc cùng suy ngẫm, và xin tác giả niệm tình cho việc chậm muộn của chúng tôi.
Nguyễn Huệ Chi
__________________________________________________________
Thư ngỏ gửi Đại sứ Tề Kiến Quốc
Đọc được những lời nói của ông Tề Kiến Quốc với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan thấy ông “nói lấy được”, nói sai nhiều quá!
Trước hết nói về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Việt Nam có đủ cứ liệu lịch sử, từ Vua Minh Mạng đã có các đội công tác ra tuần tra khai thác, thực tế là Việt Nam đã quản lí. Trong bức bản đồ do tướng Đặng Chung, Phó Tổng binh trấn thủ đảo Quỳnh Châu (đảo Hải Nam ngày nay) vẽ cũng ghi Hoàng Sa thuộc về An Nam (Việt Nam); còn thư tịch Trung Quốc thì không tìm thấy một cứ liệu nào. Về thực tế, thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam, thì quân Pháp đóng giữ Hoàng Sa, thời Việt Nam Cộng hòa cai trị thì quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ (Việt Nam Cộng hòa dù là Ngụy quyền cũng vẫn là Việt Nam). Năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng mạnh hơn bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa, từ đó đến nay luôn rêu rao là của Trung Quốc. Theo luật biển quốc tế thì hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm trong hải lãnh Việt Nam.
Ông nói lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra phương châm “16 chữ vàng”, ông nói rất nhiều về hữu nghị Trung – Việt. Có thật không? Hữu nghị, sao năm 1979 lại đem quân đánh Việt Nam, tàn phá 3 tỉnh biên giới Việt Nam, giết hại nhân dân vô tội? Sao lại dùng lực lượng mạnh liên tục tấn công chiếm bằng được cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam? Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng lớn hơn bắn đắm tàu hải quân và giết hại 74 thủy thủ ra tiếp tế cho Trường Sa của Việt Nam ngày 14/4/1988? Hữu nghị, sao không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam? Hữu nghị, sao lại ngăn cản Việt Nam liên doanh với công ty Anh, Mỹ thăm dò dầu khí thuộc lãnh hải Việt Nam trong vùng Trường Sa? Hữu nghị, sao lại vạch một vùng trong lãnh hải Việt Nam, cấm ngư dân Việt Nam ra đánh cá, hễ gặp thì bắn, thì bắt? Hữu nghị, sao lại tịch thu ngư cụ, đánh đập ngư dân Việt Nam vào tránh bão ở Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, sao Việt Nam lại mất một nửa thác Bản Giốc? Biên giới Trung – Việt xưa nay từ ải Nam Quan, nay sao lại tụt xuống tận Tân Thanh? Tất cả những điều trên đây là sự thật 100%. Hữu nghị , sao lại để dành khoảng 100 mỏ bốc-xít của Trung Quốc, mà vào khai thác bốc-xít Tây Nguyên của Việt Nam để kiếm lợi và để chất độc trong “bùn đỏ” di hại lâu dài cho nhân dân Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam chịu nguy hiểm như vậy? ông lại cho rằng nhân dân Việt Nam không phản ứng. Một làn sóng bất bình nổi lên từ Bắc chí Nam, hàng ngàn trí thức, lão thành cách mạng, cựu chiến binh có kiến nghị phản đối. Vậy mà ông nói bừa là không đại diện cho dân chúng. Ông còn nói Chính phủ Việt Nam không toàn tâm kiểm soát, ý ông cho rằng Chính phủ Việt Nam bịt miệng dân chưa đủ, muốn kích Chính phủ Việt Nam đàn áp mạnh hơn nữa chăng?!
Cuối cùng ông nói không có khả năng xảy ra chiến tranh. Đúng! Trong tình hình thế giới hiện nay, các nước lớn không dễ gì tùy tiện gây ra chiến tranh, nếu gây ra họ cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đã đánh nhau thì bên kia “sứt đầu”, bên này cũng “mẻ trán”, chưa kể là hao tiền tốn của (Mỹ hết sa lầy ở Việt Nam nay lại đang sa lầy ở I-rắc). Còn Việt Nam thì không hề muốn có chiến tranh và chưa hề chủ động gây ra chiến tranh. Ông cho rằng Trung Quốc không muốn đánh, Việt Nam không dám đánh. Ông nói thế đúng được một nửa. Từ xa xưa cũng như cận đại, Việt Nam không dám gây chiến với Trung Quốc mà luôn bị bắt buộc phải đánh trả để bảo vệ độc lập, tự do của mình. Ông nói “Trung Quốc muốn làm nước lớn có hình ảnh đẹp. không thể dùng thủ đoạn chiến tranh đối với láng giềng”. Vậy năm 1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn đánh Việt Nam là gì? Lại nói là “dạy cho Việt Nam một bài học”. Việt Nam có xâm phạm Trung Quốc đâu? Việt Nam phạm tội gì mà phải dạy, có chăng là tội không tuân phục Trung Quốc, không đáp ứng những yêu cầu vị kỉ của Trung Quốc?! Thật đúng như người ta từng nói “Đừng chỉ nghe lời người Trung Quốc nói, hãy xem việc họ làm”.
Suốt 10 thế kỷ, Việt Nam luôn là nạn nhân của chiến tranh xâm lược của nước ngoài, đã tốn bao xương máu để giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Việt Nam tha thiết với hòa bình hơn ai hết. Việt Nam không có lợi ích gì gây hấn với nước láng giềng lớn Trung Quốc, luôn muốn chung sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôn trọng bạn láng giềng, hợp tác kinh tế trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, giao lưu với nhau về nhiều mặt. Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc chung sống hữu nghị thật lòng với mình không chỉ trên lời nói mà thể hiện trên việc làm, tôn trọng độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam. Hai bên đều hành xử đúng thì mới xây dựng được thành láng giềng hữu nghị thật sự, lâu dài.
Kính chào
Nguyễn Trọng Vĩnh
Comments
One Response to “Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Thư ngỏ gửi Đại sứ Tề Kiến Quốc”
Leave a Reply

“…Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương”…