TỤNG CA, sự tê liệt nhân cách.

April 30, 2009 · Filed Under Bình Luận, Văn Hóa/Nghệ Thuật · By Thanh 

TỤNG CA, sự tê liệt nhân cách.

Hôm qua, xuất hiện trên trang web chính thức của Hội Nhà Văn Việt Nam một bài ” bình thơ ” của một người mang tên Bùi công Thuấn với nhan đề ” Đọc lại bài thơ Nguyên Tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. ” Bài viết này nhắc ta nhớ lại một thuở huy hoàng của những bài tụng ca trên sách báo. Thuở ấy, tất cả những vị lãnh đạo trong đảng, qua những bài tụng ca vi vút đều trở nên anh minh lỗi lạc không khác nào thần thánh. Còn Bác thì khỏi nói, ai cũng nhìn thấy một con người siêu phàm cả tài năng lẫn đức độ. Ôi sao mà đại phúc, đại hồng ân cho dân Việt, bỗng nhiên từ đâu hội tụ những anh tài trên thế gian tập trung dìu dắt dân mình. Hồ chí Minh, Việt Nam đẹp nhất tên người. Không chỉ đẹp có cái tên không đâu. Tài năng thì kiệt xuất, văn võ song toàn, đạo cao đức trọng, lại có lòng yêu nước nồng nàn, sôi sục, dâng trào như cơn hồng thủy. Trong đó thì ” thi nghiệp ” của người thì mênh mông vô tận, từng bài thơ, từng câu thơ, tứ thơ như châu như ngọc cứ là lấp la lấp lánh. . .Ở vào một thời kỳ mà những nước đặt dưới ách thống trị của chủ nghĩa CS, mọi thông tin từ bên ngoài đều bị ngăn chận bới một thứ đã từng được gọi là ” bức màn sắt “, đều đầy rẫy những loại “thần thoại” như thế cả. Và VN cũng không là ngoại lệ. Nhưng rồi thì khi loài người lại tiếp tục những bước đi mới, các nước CS muốn khỏi chết đã tự cứu mình bằng cách mang thứ chủ nghĩa mà trước đây họ đã tôn thờ đem đi chôn cất  và xem như suốt mấy thập kỷ mà cả nước hì hục xây dựng CNXH hay CNCS như là thời kỳ. . .lỡ dại đầy bất hạnh, trừ 4 nước còn lại trên toàn cầu trong đó có Việt Nam ta. Dù vẫn ôm chặt lấy cái nhãn hiệu Chủ Ngĩa Xã Hội vì những chiếc ghế bằng vàng, thì cái “bức màn sắt” xem ra không còn hiệu quả như xưa với thời đại thông tin như hiện nay. Những “thần thoại” từ từ bị lột bỏ những lớp vỏ của thần thánh để hiện nguyên hình những con người phàm tục xấu xa. ” Thần thoại” giờ đây khi đưọc kể lại dưới ánh sáng của sự thật, đôi lúc biến thành những. . .tiểu phẩm hài mà ” thi nghiệp” của Hồ chí Minh là một trường hợp điển hình. Gần hai mươi năm đổi mới, dù vẫn kiên trì trung thành với CNXH ( biến thể ), nhưng tụng ca cũng dần dần biến mất, vì lẽ nó không còn hợp thời, và dân chúng sau khi đã u đầu sứt trán cũng đã khôn ra ít nhiều. Vậy mà, hôm nay, ngay trên website của Hội Nhà Văn Việt Nam lại xuất hiện một bà tụng ca mới cắt chỉ. Bài thơ Nguyên Tiêu của Hồ chí Minh, được sáng tác ở Việt Bắc vào năm 1948, đó là một bài thơ bằng chữ Hán, theo thể tứ tuyệt ( thất ngôn tứ cú ) như sau:

                                Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
                                Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
                                Yên ba thâm xứ đàm quân sự
                                Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
 
Trước hết, khoan nói về tứ thơ, lời thơ, âm điệu, tiết tấu, ý nghĩa, thông điệp, hồn phách. . .vân vân của bài thơ, xin hãy nghe ông Bùi công Thuấn. . .ca hát như thế nào nhé:

                            ” Nguyên Tiêu có phản ánh không khí kháng chiến nhưng Bác Hồ viết Nguyên Tiêu không phải là để phản ánh hiện thực. Việt Bắc có núi rừng trùng điệp, nhưng bài thơ chỉ nói đến sông nước.  Ý nghiã hiện thực cuả bài thơ thật đơn giản. Bác Hồ kể lại, đêm trăng rằm1948, trăng tròn , Bác bàn việc quân trong một con thuyền trên sông. Nửa đêm mới trở về , thuyền đầy trăng. Với nội dung hiện thực ấy, người đọc sẽ tự hỏi, và không có câu trả lời : Con sông trong bài thơ là sông nào, Bác bàn việc quân với những ai ? và nội dung bàn bạc là những gì, khuya Bác về là về đâu ? Tại sao thuyền chỉ chở trăng mà không có các đồng chí lãnh đạo cùng đi ? Kháng chiến gian khổ hy sinh, sao người lãnh đạo lại lãng mạn như thế…? Những câu hỏi như thế giúp ta nhận ra rằng  nội dung hiện thực cuả bài thơ đã thăng hoa thành nội dung nghệ thuật thi ca, thành “ cái đẹp “. ”

Đại khái ông Thuấn muốn nói là dù Việt Bắc chỉ có núi rừng trùng điệp thì lấy đâu ra sông nước mà. . .thuyền lại đầy trăng ( nội cái chuyện thuyền trăng này cũng nghe…quen quen với Hàn thi nhơn rồi ), nhưng đây là tại Bác muốn. . .”thăng hoa” theo tinh thần “huyền ảo” Đường thi đó thôi. Thiệt tình, ông Bùi này quả thật là lo xa. Đâu có ai bắt bẻ chuyện một người có “đi thực tế” hay không thì mới có quyền sáng tác y chang với những gì đích thân mình trải nghiệm đâu. Dù tôi chỉ ngồi trong phòng khách rồi làm một bài thơ nói về chuyện trèo đèo vượt suối, mà nếu bài thơ đó hay, chinh phục được cỡ chừng. . . .vài triệu độc giả, thì ai dám phủ nhận giá trị của bài thơ đó hôn? Cần gì phải dựa vào cái gọi là “thăng hoa thành nội dung nghệ thuật thi ca ” ( là cái mã tổ gì thì thiệt tình tui cũng bó tay ). Bài thơ của Bác “có vấn đề” ở chỗ khác kia !
   Bài tứ tuyệt này gồm bốn câu, tôi tạm dẹp sang một bên hai câu đầu, vì không có gì đáng nói ( dù rằng Bùi quân cũng hát bằng những nốt cao nhất khi “bình” hai câu này ), tôi xin tập trung ở hai câu cuối, câu 3 và câu 4.

                                     Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Chốn xa xôi khói sóng bàn việc quân. À, trước Bác có Cao bá Quát: ” Thế sự thăng trầm quân mạc vấn. Yên ba thâm xứ hữu ngư châu.” Và trước đó nữa ở bên Tàu có Thôi Hiệu: ” Nhật mộ hương quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng xử nhân sầu. ” Yên ba, một tứ thơ Đường đã trở thành kinh điển mà ta có thể nhận ra rải rác ở Đường thi, nhưng “  yên ba thâm xứ ” thì chỉ có Cao bá Quát mà thôi. Vậy, vụ này tính sao đây?

                                  Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Nửa đêm là một tứ, thuyền đầy trăng là tứ thứ hai. Hồi nãy tôi có nhắc đến cái chuyện thuyền đầy trăng hơi bị quen quen. Bi giờ lại nhắc thêm một lần chuyện xưa nữa. Cũng ở bên Tàu có thằng cha làm thơ tên là Trương Kế, có bài tứ tuyệt mang tên: Phong Kiều dạ bạc. Như sau:

                                Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
                                Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
                                Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
                                Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.

Khỏi phải bàn thêm, cứ xem câu cuối của bài tứ tuyệt trên đây và câu cuối của bài thơ Nguyên Tiêu của Bác là đủ để ta nêu lại cùng một câu hỏi: vụ này tính sao đây? Và để phòng ngừa ai đó sẽ thắc mắc như thế ( hồi xưa Bác không sợ thì thôi, mắc mớ gì mà ông Bùi công Thuấn này phải lo giùm Bác? ) ông Thuấn cũng có nhắc đến bài Phong Kiều Dạ Bạc ( trong phần cước chú ) nhưng ông khẳng định chắc nịch rằng ” không thể có vụ cắt dán’ vì nội dung hai bài thơ đã khác nhau, và quan điểm lập trường cũng khác nhau nữa…” Trời đất, vậy ai đó muốn làm thơ với đề tài. . .cảnh cũ người xưa, đang thịnh hành, dù quan điểm thế nào chăng nữa, tôi cứ tự nhiên ” chôm” Những ” khứ niên kim nhật” hay ” nhân diện đào hoa” một cách thoải mái rồi cho đó lá thơ của tôi đó được sao?

Không cần phải có công ước Pern được áp dụng ở VN mới một hai năm, thì người ta mới nói đến chuyện “đạo văn”. Đó là chuyện đạo lý mà những con người tham gia trò chơi văn chương chữ nghĩa đều biết và tự răn mình. Hà tất phải nói đến chuyện pháp luật ở đây, mà giả dụ như Bác có nhờ ai đó làm luật sư để biện hộ cho mình, thì dám chắc Bác sẽ không nhờ đến ông Thuấn đâu, vì biện hộ kiểu này thì. . .đổ nợ là cái chắc !!

Comments

Leave a Reply