KÝ ỨC của MỘT NGƯỜI MIỀN NAM KÝ ỨC của MỘT NGƯỜI THỜI HẬU CHIẾN
KÝ ỨC của MỘT NGƯỜI MIỀN NAM KÝ ỨC của MỘT NGƯỜI THỜI HẬU CHIẾN
( Sau đây là những ký ức rời rạc của tôi, nhớ gì ghi nấy, những gì gọi là giá trị văn chương chữ nghĩa không có trong bài này vì nằm ngoài mục đích của người viết. Tôi chỉ muốn ghi nhận một cách trung thực của một người miền Nam nói chung, chứ không phải tư cách bản thân. Dĩ nhiên không ai “bỏ phiếu” cho tôi cái tư cách. . .đại diện đó tuy nhiên, bằng cố gắng tự đặt mình vào vị trí của cha tôi, mẹ tôi, anh chị em và bằng hữu để có thể phần nào vẽ nên bức tranh tổng thể này. Có gì là phiến diện hay sơ suất đó là ngoài tầm tay của người viết.)
Khép lại quá khứ? Đúng, nhưng không nên quên bài học. Bài học là: không phải để khơi dậy hận thù mà để tránh gây thêm thù hận !
Ý thức hệ khởi đầu là một khái niệm. Tức là một ý tưởng không hơn không kém, có nghĩa là một cái gì đó không phải là một thực tại, lại càng không thể là đời sống. Rồi dựa trên một ý tưởng được gọi là cơ bản đó, người ta dựng nên một hệ thống với đầy đủ những giây mơ rễ má. Từ những mớ ngôn từ, chữ nghĩa làm hướng đạo, thoạt đầu chỉ có giá trị về mặt lý thuyết, thậm chí chỉ là một giả thuyết, rồi vì say mê như lậm bùa ngãi, người ta muốn biến nó thành hiện thực, và một thứ chủ nghĩa ra đời. Nó được thi hành ở một nơi xa lắc xa lơ hoàn toàn cách biệt với vùng đất và con người nơi mà chủ nghĩa đó được khai sinh. Rồi ma dẫn lối quỷ đưa đường, nó, thứ chủ nghĩa trời ơi đất hỡi đó được du nhập vào quê hương mình. Người ta có biết đâu, đó chính là lời nguyền ác độc đầy thảm họa sẽ gây bao điêu linh cho xứ sở và dân tộc. Đó là định mệnh, nếu ta muốn trốn chạy và quay lưng lại với lịch sử dân mình. Nhưng đó sẽ là trách nhiệm của những con người. . .lỗi lạc của thế hệ trước đây. Cần phải nhớ những bài học cay đắng đó, hy vọng có thể tránh được những điều có thể đưa cả dân tộc vào chỗ chết. Người ta chỉ có cơ may thoát chết được một lần !!
Nó, cái chủ nghĩa đó được áp đặt trên nửa phần đất nước ở miền Bắc trên hai mươi năm với tất cả những hệ lụy biến nửa đất nước thành nghèo đói, hận thù giai cấp, người dân thường xuyên sống trong sợ hãi và lo âu. Dối trá, mỵ dân, nô lệ quan thầy, là những “chính sách” mà những người lãnh đạo thường sao chép từ hai người “anh em vĩ đại” Nga Hoa, để “dìu dắt nhân dân. Như thế cũng chưa đủ, những con người này muốn đem cái chủ nghĩa đầy mộng mỵ nhuộm đỏ toàn thể đất nước, bằng cách phát động một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Cuộc chiến tranh điên cuồng và ngu xuẩn trên kéo dài gần hai mươi năm, với hơn năm triệu sinh linh, và cả một đất nước tan hoang, đổ nát. Cuộc chiến tranh chấm dứt với bản khải hoàn ca của chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Đó cũng là khởi đầu cho những bi kịch diễn ra khắp quê hương đất nước.
Trên tờ Tuổi Trẻ gần đây có một loạt bài với chủ đề ” Đêm trước đổi mới “, chủ yếu kể lại những chuyện xảy ra thời bao cấp. Người đọc, sau khi đọc hết bài này đến bài khác đều thấy những điều tệ hại đến gần như vô lý đã xảy ra. Những chuyện như thế, không phải chỉ là những chuyện lẻ tẻ, thỉnh thoảng, mà thường xuyên và đều khắp toàn thể xã hội. Nhưng có điều là những bài viết đó tạo cho người đọc cái cảm giác là những chuyện như thế là những chuyện của ai khác chứ không phải của dân mình. Hay của dân mình thì là xảy ra thời nào xưa lơ xưa lắc như thời thực dân, hay phong kiến chẳng hạn. Hay nếu xảy ra thời. . .của mình, thì chắc lỗi ở thằng cha căng chú kiết nào chứ không phải lỗi ở. . .đảng ta !! Còn bi giờ thì đổi mới rồi, đất nước phát triển một cách hoành tráng đó là nhờ tài. . .tháo vát của Đảng, bằng cách ” cóp pi chút xíu thui ” chủ nghĩa tư bản !! Lại nghe nói ở thành phố mang tên Bác có cả một cuộc triển lãm về những hình ảnh của ” thời bao cấp “, làm như đó là ” sản phẩm ” của ai đâu chứ không phải của ta. Cứ như là triển lãm tôi ác Mỹ ngụy vậy. Đúng là một động thái đầy. . .dũng cảm đến độ buồn nôn !!
Người viết cũng được. . .gợi hứng từ những việc vừa nêu trên để ôn lại một thời, coi như là chuyện cổ tích vậy.
MÙA XUÂN NĂM ẤY.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn ” giải phóng “, những chính sách lần lượt được ban hành. Trước ngày tôi khăn gói lên đường trình diện để ” được “. . .học tập cải tạo, tôi còn kịp chứng kiến một biến cố. . .long trời lỡ đất, một minh họa cụ thể của tinh thần đấu tranh giai cấp, cú đánh tư sản mại bản !! Bưóc đầu cho việc cào bằng xã hội. Từ đây sẽ không còn cảnh người bóc lột người, thằng nào như thằng nấy nhé! ( sau chiến dịch này, bảo đảm sẽ có những thằng tự nhiên giàu. . .đột xuất, nhưng đó lại là chuyện tối mật của quốc gia, do đó tối kỵ bị phát hiện. ) Rồi sau khi tôi “học tập tốt” trở về, tôi lại chứng kiến vụ đổi tiền hai đợt, và vụ đánh tư sản thương nghiệp. Thế là thằng nào như thằng nấy. Những thằng nào giỏi thoát được nhờ tài ảo thuật, hay có ” nội ứng ” cho thông tin kịp thời tẩu tán, thì cũng từ đây giả nghèo thê thảm thấy thương. Những hình ảnh của cải sang trọng, quần áo xênh xang, xe cộ, vàng vòng,. .vân vân hoàn toàn biến mất như trò ảo thuật. Một thế giới đại đồng trong một sớm một chiều biến thành hiện thực ! Sàigòn của thời ” ngựa xe như nuớc, áo quần như nêm ” chỉ còn là cổ tích. Các bà ngày xưa chỉ biết nội trợ trong nhà, thì ngày nay cũng . . .xuống đường, chợ trời chợ đất như thiên hạ. Cảnh đầu đường xó chợ là cảnh phổ biến. Chợ trời bỗng nhiên mọc lên như nấm, đường nào cũng có, phố nào cũng có những con người ngơ ngơ ngác ngác, bị bị túi túi, mời mọc, xì xầm, dấm da dấm dúi, như đang rình bắt trộm. Làm sao sống được với bầy con nhỏ, khi cha nó đang ở trại cải tạo, cải tạo thì đủ thứ, nào là chế độ cũ, nào là tư sản. . .vân vân. Tiền của dành dụm bao năm, bỗng nhiên biến thành hư vô ! Đồ đạc trong nhà, quần áo, đồ dùng không còn “thực tiễn” nữa, như cái quạt máy,bàn ủi điện ( còn quần áo bảnh bao gì nữa đâu mà ủi mí lị là ) đồng hồ đeo tay, hoa tai, vòng xuyến. .vân vân từ từ theo nhau ra đường để mong đem về được năm ba lít gạo cho lũ trẻ đang đợi cơm mòn mõi. Sài gòn, nơi chốn phồn hoa đô hội ngày nào, bỗng chốc biến thành cái chợ trời không lồ, đồng thời phát sinh ra bao nhiêu là hình thức mua bán mới mà trước đây, dù có óc tưởng tượng phong phú tới đâu, người ta cũng không thể nghĩ tới. Chẳng hạn như đây là một cảnh: một thanh niên đang cầm trong tay một cái quần cũ của đàn bà, loại hàng mỹ a, hay sa-teng, hay lãnh đen gì đó, hai tay giang ra để căng chiếc quần, hướng về mặt trời săm soi cái đủng quần để xem xét độ dày mỏng của nó và ” đánh giá ” độ cũ của chiếc quần tới độ nào. Cạnh gã là một người đàn bà, mặt mày hốc hác mệt mõi, có vẻ bồn chồn lo lắng. . .Và cách đó không xa chừng độ mươi thước, một cuộc trao đổi khác: ” Hứ, cái này đồ dzổm chú Hai ơi. “ ” cậu nói sao, nó là viết mực hiệu Pilot đang hoàng mà cậu. “ ” Pilot dzổm chú Hai, đồ Chợ Lớn, tui mua để tế chắc. ”
” Cậu nói sao? Cái này Ba tui mua thưởng cho tui, hồi tui thi đậu Trung học đó, đồ của Nhựt đàng hoàng, tui còn nhớ cái hộp bọc nhung đỏ đẹp lộng lẫy luôn, sức mấy mà dzổm, hứ !!”. . .và ở một góc khác thì là nồi cơm điện, một cái máy ảnh, một cuốn tự điển, một cái khay trầu xưa . . .vân vân. Cứ thế, đồ trong nhà ( thật ra, chẳng có gì quí giá, vì những thứ quí đâu còn cơ hội “sống sót” ) cứ lần lượt theo chủ ra đường rồi biến mất, để chủ nhân có thể. . .toàn mạng đem gạo nước về nhà. Có người còn dở cả mái nhà của mình ( một vài tấm tôn ) ra bán. Đó là bản năng tự vệ và sinh tồn. Ta và gia đình ta phải sống trước đã, còn sống để làm gì thì chuyện đó tính sau. Mà thực ra, những ” tư duy ” thuộc loại đó ( tức là sống để làm gì? ) chỉ phát sinh khi con người đã được ăn no, còn lúc đói,thì suy tư “vớ vẩn” như thế chỉ là hàng xa xỉ. Những hình thức buôn bán linh tinh vì hoàn cảnh đặc biệt như thế nên tự phát một cách vô tội vạ, tràn lan khắp nơi. Mà dưới chế độ XHCN thì bất cứ hình thức buôn bán nào cũng đều bị cấm tiệt. Thế nên, hình ảnh vừa mua bán vừa. . .chạy, đuổi nhau, như trò chơi cút bắt. Không chạy kịp thì bị “tóm”, không tù tội gì, nhưng bao nhiêu”hàng” đều bị hốt sạch, có nghĩa là bao nhiêu “vốn liếng”, niềm hy vọng của. . .mâm cơm gia đình coi như tiêu ma. Lại phải nghĩ xem, ở nhà còn “món” nào khả dĩ có thể mang ra đường mà “tống táng”, để mà còn làm vốn cho chuyến phiêu lưu của ngày kế tiếp? Đúng thế, thời buổi của ” áo cơm là đạo cả, nợ áo cơm phải trả từng ngày “, là những ngày của sự lo âu liên tục, khi ngã lưng để chợp mắt người ta cứ sợ phải đối đầu với một ” thách thức mới ” của buổi sáng mai. Đến đây người viết xin mở một cái ngoặc đơn là trong bài này người viết chỉ muốn nói tới những lăn lộn kiếm cơm loanh quanh thành phố. Ngoài ra còn có một ” đội ngũ khá đông dân Sàigòn…lên đường mỗi sáng, túa về mọi hướng trên những chặng đường xa, những người đi buôn chuyến mà người viết sẽ có dịp trở lại ở phần sau của bài này. Đó là những hình thức mua bán nhỏ, còn những loại hàng có giá thì tiền không còn là phương tiện đáng tin cậy nữa, nhất là sau những vụ đổi tiền, bao nhiêu tiền dành dụm bỗng bị mất trắng trong một ngày mà không hiểu tại sao. Thế nên, một thứ khác được mọi nguời tin cậy là. . .quí kim, vàng hay bạc !!
Sau những đợt đánh tư sản . . .long trời lỡ đất, số vàng đáng kể trong tay tư nhân gần như bị triệt tiêu ( theo lý thuyết thì nó được lưu trữ trong kho nhà nước, nhưng chỉ có mọi nó mới tin !! ) số lọt lưới không đáng kể. Vì giờ đây, chỉ có vàng là thứ có thể tin cậy có một giá trị thật để trao đổi những mặt hàng quí và có thể dùng để tích lũy tài sản. Nhu cầu của loại quí kim này, trong một tình trạng nghịch lý là dù đói cả nước , nhu cầu đó vẫn cứ tăng lên. Một cuộc gom góp, truy lùng quí kim bắt đầu nảy sinh.Một số nghề mới lại ra đời, và có một nghề đáng chú ý: phân kim !!
Dùng phương pháp điện giải để lấy vàng từ những sản phẩm kim loại mạ vàng như, gọng kính, đồng hồ đeo tay, nắp bút máy, . . .vân vân, họ thu mua những vật dụng thuộc loại này để lấy vàng, qua những món hàng tưởng như đồ phế thải, hư hỏng không còn dùng được nữa. Không phải ai cũng biết những món này được mạ vàng, các bà nội trợ từ bao đời trước, cứ tích lũy những đồ dùng hư hỏng của đức ông chồng, như mục kính cũ, cây bút hư. . .rồi cứ vất vào trong một ngăn kéo chuyên chứa phế liệu trong nhà, từ đời cha ông rồi quên béng. Rồi một hôm, có một ông đạp xe dạo qua xóm, vừa đi vừa rao hàng: ” ai có vàng vụn bạc vụn, mắt kính lọt tròng, răng vàng rụng rớt, viết máy viết tay. . .bán hôôôn !! “, sực nhớ nhà mình hình như cũng có mấy món như thế, các bà bèn moi ra, các bà cũng không ngờ với những đồ sứt tay gãy gọng như thế mà cũng bán được khối tiền !! Bọn trẻ trong nhà cũng dần dần phát hiện ra một “chân lý”mới, là bất cứ một thứ gì trong nhà cũng có thể đem bán được, và. . .cái khó nó ló cái khôn, đám nhóc tì thiếu tiền tiêu vặt, khi ba mẹ phải đầu tắt mặt tối lăn lộn ngoài đường, thì chúng lục lọi trong nhà xem còn thứ gì có thể ” mãi” được, thế là một, hai, ba, hô. . .biến.
RỒI MỘT HÔM, LỜI NGUYỀN ỨNG NGHIỆM.
Tại sao bỗng chốc cà nước biến thành một thứ chợ trời buôn bán lẽ như thế? Trong khi ngăn sông cấm chợ đã là quốc sách? Tại sao lại có tình trạng nghịch lý này, hay nói cho đúng hơn thì “quốc sách” đã bị phản tác dụng một cách trầm trọng và bi thảm ! Có gì đâu, đối với thị dân ở những thành phố lớn miền Nam, đa phần là công tư chức. một ông bố, ông chồng đi làm có thể lo cho cả nhà về mọi mặt. Không những thành phần trung lưu, một số gia đình nghèo cũng thế, vợ của một bác xích lô có thể cũng chỉ ở nhà lo việc nội trợ , chăm sóc con cái, quán xuyến nhà cửa. Cánh phụ nữ thì ngoài công tư chức, những công việc nhẹ nhàng, những người lao động nặng như phụ hồ trong những công trình xây dựng chẳng hạn chiếm số lượng không đáng kể. Thành phần còn lại, chiếm đa số, là thành phần buôn bán ở chợ, có sạp bày hàng, lớn nhỏ đủ hạng và một số lượng đáng kể nữa là buôn thúng bán bưng.
( thành phần kể sau cùng này dù sao cũng đã quen với lối buôn bán chạy như thế, nhiều khi cả đời, nên cũng ít bị “sốc” hơn khi được “tiếp cận” lối sống mới XHCN vào thành phố ! ) Rồi, đùng một cái, đổi đới. Thành phần quân, cán, chính chế độ cũ thì được cho đi “học tập”, dẹp hết chợ, công ty xí nghiệp tư nhân giải tán . . .vân vân., thế là những “trụ cột” gia đình một là tù đày, hai là biến thành thất nghiệp. Đói thì cái đầu gối phải bò, những con người trước đây chỉ biết quanh quẩn ở nhà, những con người trước đây chỉ biết đến những công việc quản lý hay bàn giấy, những người xưa kia ngồi chễm chệ trên những sạp hàng khang trang sạch sẽ ở chợ, ông bà chủ những cửa hiệu sang trọng ở thành phố, vân vân giờ đây văng ra đường như bươm bướm mùa xuân. Những con đường trong thành phố, xe cộ biến mất, thay vào đó là những đám người, chạy tới chạy lui, hớt ha hớt hãi, tay bị tay túi, dáo dác như gà mắc đẻ từ sáng tinh mơ cho đến tối trời. Chợ trời khắp nơi trong thành phố, đủ thứ ” hàng hoá ” nào mà bạn có thể tưởng tượng ra được, cũ mới, thiệt dzổm, nội ngoại,và cả những thứ không biết gọi là gì. Trong những thứ “hàng hoá” đó, phần lớn là “đồ nhà”, những vật gia dụng không còn dùng nữa, những thứ linh tinh để lại từ đời ông cha, không còn “thực tế”. .vân vân, nói chung là một ngàn lẽ một thứ hàng linh tinh ( nữ trang hay đồ trang sức thì khỏi nói, đó là một trong những thứ “hàng hoá”. . .bay đi sớm nhất ! Như trường hợp của tôi, sau khi cầm cự một cách “kiên cường” để cố giữ cho bằng được chiếc nhẫn cưới làm kỷ niệm duy nhất còn sót lại, bà xã tôi cuối cùng cũng đành “tiễn” nó đi để có thể cứu con tôi trong một ca bệnh nặng, phần tôi mang theo chiếc nhẫn vào trại cải tạo để cuối cùng nó cũng “lên đường” để đổi với anh vệ binh lấy vài viên thuốc sốt rét cấp tính ! ). Đó là chưa kể những “dịch vụ” phát sinh để cung cấp cho những người bán chợ trời theo phương châm là cần gì có nấy. Đường phố Sàgòn trở nên một tập hợp sinh hoạt lạ lùng nhất, biến hoá nhất trong chiều dài lịch sử đất nước !!
Một vài năm sau đó, khi chính sách tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp được áp dụng cho nông thôn, sản lượng lúa gạo hằng năm bị giảm sút trầm trọng, chưa kể nạn sâu rầy tấn công, thuốc trừ sâu ngoại nhập không có, các ” nhà khoa học VN ” nghiên cứu, chế tạo thuốc trừ sâu nội địa, càng phun thì sâu rầy càng sinh sôi nẩy nở, đến một lúc người ta cứ tưởng sẽ không có cơ hội được nhìn thấy hạt gạo hình dáng ra sao !! Thế là lần đầu tiên, dân miền Nam biết được bo bo. Cả nước đói rã họng , đói xanh mặt, giấc mơ của mọi người dân là được ăn một bữa cơm được nấu bằng gạo 100% ! Chỉ thấy bo bo, gạo mốc, bột mì mốc, vân vân, những thứ thực phẩm mà toàn dân miền Nam lần đầu tiên trong đời được ” thưởng thức”. Ăn bo bo đến độ tiêu ra máu. Những bài báo hô hào ca ngợi sự bổ dưỡng của bo bo, thứ ngũ cốc thô được lên ngôi vương hậu của chủng loại thực vật ngay trên đất nước VN, quả là một đất nước có nhiều phép lạ. Rồi chính sách lùa dân đi vùng kinh tế mới, cả một bộ máy tuyên truyền ra rả suốt ngày đêm, mở hết công suất để “quảng cáo” về những vùng đất. . .”màu mỡ” đang chờ đợi người dân, nghe cứ như là những vườn địa đàng nơi hạ giới. Nhưng chỉ chưa đến một năm sau, những người “tự nguyện” đi khai phá vùng kinh tế mới không chịu đựng nỗi bệnh tật đói khát, bỏ mạng một số nơi thâm sâu cùng cốc, kéo nhau trở về thành phố trong tình cảnh không nhà cửa. Thế là, công viên, lề đường , bến xe, gầm cầu, hàng hiên bên phố, .vân vân là chốn dung thân, những con người này lại phải lăn lộn trên đường phố, làm bất cứ điều gì để sinh tồn. Đó là chỉ nói đến người dân bình thường, không có “nợ máu” với cách mạng. Còn đối với những gia đình của những ai đã tham gia chế độ cũ thì khỏi nói. Một chính sách ngược đãi một cách công khai, không cần giấu diếm, đưọc thi hành một cách nhẫn tâm không thương tiếc. Những bà mẹ, bà vợ, phần suy sụp khi chồng mình không biết sống chết ra sao ở một vùng rừng núi hoang vu nào trên đất nước, phần gánh toàn bộ gánh nặng một đàn con, phần phải đối phó với những kỳ thị, nghi kỵ, phần không biết phải nói như thế nào với các con khi chúng nghe trên đài phát thanh, cái loa phường, xem trên TV, hình ảnh của cha, anh chúng là những ” bọn người” cực kỳ xấu xa ghê tởm. Hằng vạn gia đình phải chịu đựng những tình cảnh như thế cả, đối với họ, những ngày tháng này là những chuỗi ngày của những đớn đau dày xéo, những tháng ngày tối tăm hơn địa ngục. Tưởng không cần phải nói thêm điều gì xảy ra ở những trại cải tạo. Quá đủ mệt mõi để nói thêm những đối xử giữa người và người, chẳng qua cũng là những chính sách sao chép của những bậc đàn anh, theo mẫu hình của quần đảo Gulag, của “cách mạng văn hóa”, của “chuyên chính giai cấp”. .vân vân. Những anh nào được gọi là “học tập tốt” sống sót trở về ( thật ra thì không có vụ học tập tốt hay lao động tốt quái gì cả, tất cả thành phần cải tạo đều đã được phân loại dựa theo cấp bậc, chức vụ, ban ngành trong quân đội hay trong guồng máy chính quyền của chế độ cũ mà “trên” đã ngầm qui định thời gian và nơi chốn cải tạo ) cũng chưa phải là hết. Còn thời gian quản lý tại địa phương, và ngay cả khi thời gian quản lý chấm dứt, được. . .”phục hồi quyền công dân” trong một buổi lễ hẳn hoi, oan khiên vẫn chưa chấm dứt. Anh vẫn không được vào hộ khẩu, vẫn trong tình trạng “tạm trú” triền miên, anh có thể bị gọi lên phường lên xã bất cứ lúc nào không kể ngày đêm. Nếu cần, vì “lý do an ninh”, như những dịp lễ lộc này nọ, anh được “ưu tiên” gọi lên xã hay phường để nhốt đầu anh vài hôm. Nếu có những chiến dịch đào kênh thủy lợi hay những công trình công cộng nào anh sẽ được dành ưu tiên để hỏi xem anh có,,,”tự nguyện” mang cơm đùm cơm nắm mà đi lao động xã hội chừng nửa tháng hay không, và tất nhiên là anh. . .”tình nguyện” ! Nếu chẳng may có những vụ việc gì như tội phạm, thường phạm cũng như phản động xảy ra quanh địa phương anh ở, thì anh cũng khốn đốn vì anh luôn bị nghi ngờ đầu tiên có khả năng là tòng phạm hay ngay cả chánh phạm hay không. Anh luôn bị đặt trong tình trạng căng thẳng như đoạn cao trào của một phim kinh dị !!
Và chuyện phải đến đã đến: hằng triệu người liều mạng vượt biển để tìm đường sống trong cái chết. Cái hậu quả của những cuộc ra đi này là hằng ngàn bi kịch kèm theo, hằng triệu người bỏ mạng trên biển cả, hằng triệu người bắt đâu một cuộc sống lưu vong, không quê hương, không gia đình, không nguồn cội, khời đầu cho những thế hệ người Việt không biết cả đến tiếng mẹ đẻ của mình !
Có thể nói không sợ bị lầm lẫn, là suốt trên mười năm sau “ngày vui đại thắng” cả nước sống trong cơn hấp hối. Người ta không còn tìm thấy đâu là mạch sống của cuộc đời. Dân miền Nam thì khỏi nói, bàng hoàng ngơ ngác trước cơn đại họa ! Kể cả những người miền Nam mà trước đây là cảm tình viên của người “anh em bên kia”, hay gia đình có con em theo cách mạng vì chịu không nỗi đám bảo an dân vệ ở làng ở xã hiếp đáp, giờ đây cũng vỡ mặt trước những thái độ “thắt họng” dến phi lý của chính quyền địa phương. Những nông dân Nam bộ chơn chất dậm cẳng la làng, ” chời đất ơi, hồi đó mấy ông đâu có nói ruộng đất ông bà để lại cho tôi bi giờ phải vô tập đoàn hay hợp tác xã đâu?!?!” hay là ” chời chời, có mấy giây bí tui trồng sau nhà, bi giờ tui cắt đem ra chợ bán cũng hổng được nghĩa là sao? Bắt bán cho tổ thu mua của mấy ông giá rẻ mạt, tui có quyền bán cho ai cũng không được sao? Chời ơi sao kỳ dzậy ta? “
Chỉ có một hình thức kiếm sống duy nhất hợp pháp là. . .công nhân viên nhà nước, ngoài ra đều là bất hợp pháp tuốt. Hình thức tổ hợp hay hợp tác xã sản xuất chỉ xuất hiện sau này, hơn nữa, trên nguyên tắc thì đây là mô hình “hợp tác” giữa nhà nước và tư nhân, kỳ thực thì người của nhà nước quản lý tất tần tật, giúp thêm cơ hội cho những tai mắt của nhà nước tham nhũng dễ dàng. Mà không phải dễ dàng có phép mở tổ hợp nếu anh không biết. . .đường đi nước bước !
Còn công nhân viên thì sao? Đồng lương chết đói. Lương một ông bác sĩ ở bệnh viện không đủ cho ông ăn sáng, lấy đâu ra nuôi vợ con, chứ đừng nói đến những công nhân quèn. Vậy là cả nước bắt buộc phải, một là ăn cắp, hai là buôn bán chợ trời chợ đất. Và ai cũng biết điều đó nhưng vờ như không biết, tất cả toàn dân đều có chung một thái độ là. . .”nín thở qua sông” hay “trùm mền hô khẩu hiệu”. Sự dối trá được nuôi dưỡng trong một môi trường thuận lợi để lên ngôi ngự trị trong tâm khảm mọi người !
NHỮNG ANH HÙNG TRONG CHIẾN TRANH và NHỮNG TÊN ĐIẾM HÒA BÌNH
Còn những người chiến thắng thì sao? Những người đang nắm quyền lãnh đạo một đất nước thống nhất và độc lập thì đa số say mê quyền lực và bắt đầu biết đến lạc thú của vật chất thì tha hoá và tận hưởng những gì có thể trong tầm tay, qua quyền lực và thủ đoạn. Còn những con người có tâm huyết nhưng đã tỉnh ngộ biết mình bị lừa gạt thì một là mệt mõi buông xuôi thành anh chán đời, bất mãn. Bằng như còn đủ hùng tâm để cất lên tiếng nói thức tỉnh thì ngay tức khắc bị phế võ công và làm cho im tiếng. Cả một guồng máy đã manh nha những rạn nứt ngấm ngầm. Từ đó, chính sách, chủ trương bắt đầu mang tính cách chắp vá theo kiểu đối phó, mà quả thật, từ ngày đầu đứng trên bục “vinh quang”, đảng ta liên tục đối phó từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác, đối phó đến độ chóng mặt, nên cứ quay cuồng như con chó cắn đuôi. Thế là, hậu quả tất nhiên là đảng xô cả nước xuống vực thẳm.
Sự sụp đổ liên tục của các nước cộng sản Đông Âu như quân bài đô mi nô, rồi không lâu sau đó, Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa cộng sản cũng tan rã theo,toàn thế giới chỉ còn lại 4 nước vẫn còn ôm theo nhãn hiệu CNXH. Trong đó thì Trung quốc và VN đã nhanh nhẹn cóp pi cách làm ăn kinh tế của ” bọn tư bản ” để cứu sống đất nước, nhưng vẫn nuôi dưỡng cái đuôi XHCN để được độc quyền hưởng thụ vừa tiền tài vừa quyền lực, bất chấp sự kiềm hãm sự phát triển của đất nước, và là dung môi nuôi dưỡng sự đục khoét và sa đọa của giới lãnh đạo. Đó cũng là ngày sinh của một lớp người mới được gọi là tư bản đỏ !! Sự xuất hiện của một tầng lớp đại gia. Rồi đầu tư nước ngoài, cái mỏ vàng béo bở cho các ngài đầy tớ nhân dân. Tóm lại, đất nước dù có hồi sinh khỏi cơn bức tử, bộ mặt có thay đổi, nhưng đại đa số dân chúng vẫn không thoát khỏi đói nghèo. Chỉ béo mấy ngài bảng đỏ, chưa kể với sự du nhập ồ ạt lối sống “kinh tế thị trường” mà cả mọi tầng lớp không kịp chuẩn bị tinh thần đã là đầu mối cho bao nhiêu sự sụp đổ về mặt đạo đức của gia đình và xã hội ! Có nghĩa là, cái hậu quả trầm trọng của “thời bao cấp” vẫn còn y chang như cũ, mà bây giờ đã biến chứng trở thành căn bệnh mới xem ra cũng nguy hiểm chết người.
Từ ngày đảng ta được thành lập đến nay đã hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, gần ba thế hệ con người, đảng ta đã phạm phải sai lầm rất. . .rất nhiều lần, mà sai lầm nào cũng kinh thiên động địa, làm cả dân tộc điêu linh. Thế nhưng chưa bao giờ đảng ta nhận lỗi về phần mình cả. Kinh nghiệm đời thường cho biết rằng phàm thằng nào không biết nhận lỗi thì không bao giờ biết sửa mình, và gã có khả năng phạm lỗi nhiều lần khác nữa. Nhưng một anh hàng xóm, hay một anh bạn có gây ra lỗi lầm dù nghiêm trọng đến đâu, kể cả giết người, thì ảnh hưởng chỉ mang tai họa đến cho một vài người, hay cùng lắm là mang đến hậu quả xấu cho một tập thể hay một cộng đồng nhỏ bé nào đó; còn như khi đảng ta sai lầm thì. . .quê hương tan nát !!
Vậy mà đã ba thế hệ trôi qua, những con người “gây lỗi”, hay đúng hơn là những “ông bà tội phạm” đó cứ tiếp tục ngồi trên đầu nhân dân, tiếp tục hưởng thụ danh lợi và quyền lực để tiếp tục một ngày nào đó. . .phạm thêm sai lầm mới !! Dân mình tại sao phải gồng mình chịu cái tai ách vô lý như thế này mãi vậy hả trời??
Cứ mỗi năm, đến tháng 3 là tôi bắt đầu nhớ lại những ngày này của năm 1975 lịch sử. Cái tháng 3 đó những đoàn quân “giải phóng” ầm ầm kéo về phương Nam. Đi đến đâu, dân chúng thất kinh hồn vía bỏ cà nhà cửa, tài sản dìu dắt nhau chạy trối chết ( cuộc di tản của dân chúng lịch sử dọc quốc lộ 14 với hằng trăm ngàn dân, và chỉ đến nơi được 1/5, còn lại đều bỏ xác trên đường ). Thời gian đó, hằng ngày tôi cũng theo dõi tin tức qua báo và đài, đài Sàgòn, đài quốc tế như BBC, VOA chẳng hạn, và cả đài Hànội nữa. Tôi còn nhớ rõ, dù suốt các tỉnh, thành phố miền trung dân chúng kéo nhau chạy loạn, chạy càng xa càng tốt khỏi những “vùng giải phóng”, bất kể những bất trắc trên đường dưới những cơn mưa bom đạn, nhưng khi nghe đài Hànội, thì cứ i xì một nội dung là “nhân dân thành phố Huế, ĐàNẵng, NhaTrang, nhiệt liệt chào mừng đoàn quân giải phóng. . .” Rồi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, “ngày vui đại thắng” hay “đại thắng mùa xuân” gì cũng thế, đúng là. . .”…vui sao nước mắt lại trào…”
QUẢ LỪA ĐẦU TIÊN: Thông báo cho sĩ quan các cấp trong quân đội chế độ cũ trình diện học tập.
30 tháng 4 năm 1975, ngày chế độ miền Nam trút hơi thở sau cùng. Sau đó là liên hoan, lễ hội, duyệt binh ( ngày quốc tế lao động 1 tháng 5 )…rồi đợt kêu gọi trình diện tất cả quân cán chính các cấp, tiến hành theo từng địa phương để được cấp một giấy tùy thân đầu tiên từ chính quyền càch mạng ( ở Sàgòn thì chắc không ai quên mảnh giấy ký tên Cao Đăng Chiếm, chủ tịch ủy ban an ninh nội chính. ( Sau này không biết tại sao cái tên này hoàn toàn biến mất như bị bốc hơi ). Lai rai có những nắm đấm phủ đầu bằng những án tử hình, do “tòa án nhân dân” ở phường này, quận kia xét sử và được hành quyết tại chỗ những tội phạm như cướp bóc, phản động. . vân vân. Thế rồi im ắng một vài hôm để bắt đầu thông báo đầu tiên kêu gọi các cấp thấp từ hạ sĩ quan xuống đến hàng binh sĩ trình diện học tập. ( Thông báo còn kèm theo thống báo phụ là các cấp sĩ quan chờ được thông báo sau ) Thông báo nêu rõ thời hạn học tập là 3 ngày. Địa điểm học tập được qui định tùy địa phương. Thế là từ anh thượng sĩ nhất xuống đến anh binh nhì giở cơm sáng đi chiều về đúng 3 ngày như thông báo. Anh nào sau ngày thứ 3 kết thúc, và sau bài làm tiếp thu đều được cấp giấy chứng nhận đã “học tập tốt” coi như. . .bằng tốt nghiệp ! Thế nhé, thế là hết lo sợ không đâu. Sau ba ngày học ‘chính trị” 9 bài học cơ bản như là “tội ác Mỹ ngụy”, “chính sách khoan hồng” của cách mạng. .vân vân. Cuối ngày đều có thảo luận, rồi làm bài tiếp thu bằng cách trả lời những câu hỏi, thế là xong. Vậy mà trước đó cứ lo ngay ngáy đến sốt cả ruột. Và sau đó là im lặng suốt cả tháng trời cho đến khi thông báo thứ hai kêu gọi các cấp từ hàng tướng lãnh xuống đến cấp tá trong QLVNCH trình diện. Thông báo nêu rõ “khi đi nhớ mang theo tiền hoặc lương thực cho một tháng ăn..” và những người thuộc diện học tập nêu trên có hai ngày để trình diện. Ngay cái ngày đầu qui định trình diện đó, các đài phát thanh, đài truyền hình đều đưa tin, có kèm phóng sự hình ảnh các tướng lãnh “tự nguyện” đến địa điểm trình diện ( hình ảnh tướng Lê minh Đảo, tư-lệnh Sư Đoàn 18 QLVNCH, tay túi tay xách đến trình diện trên màn ảnh nhỏ truyền hình tôi vẫn còn nhớ đến bây giờ !!). Lần này thì ai nấy có vẻ “yên tâm trình diện”, vì dựa theo “chuẩn” binh sĩ, hạ sĩ quan học 3 ngày, thì tướng tá học tập một tháng là. . .nhẹ nhàng lắm rồi, là hợp. . .lô dzích lắm rồi, không có gì đáng phải phàn nàn hay. . .lo sợ cả. Thế là, nào, ta lên đường !
Rồi một hai tuần trôi qua, thông báo thứ ba kêu gọi toàn bộ sĩ quan cấp úy trình diện, thông báo cũng nói rõ “khi đi nhớ mang theo tiền hay lương thực cho mười ngày ăn..” Những người bị “dính” trong diện này bèn suy luận, ờ thì hạ sĩ quan binh sĩ học tập ba ngày, tướng tá một tháng, cấp úy thì mười ngày. Diện đầu tiên thì ai cũng thấy rõ là chỉ sau ba ngày là có giấy chứng nhận hẳn hoi, tướng tá thì đã đến hạn một tháng đâu mà thấy ai về, vậy thì mình mười ngày là đúng rồi, có gì phải phân vân, thôi thu xếp. . .lên đường, coi như sau mười ngày kiếm được cái giấy chứng nhận xong còn phải lo kiếm sống nữa chớ. Thế là, trong hai ngày qui định đó, người ta chứng kiến trước những địa điểm trình diện, những con người lại tay túi tay xách lục tục đến trình diện. Không ai ngờ, sau khi cánh cổng của những điạ điểm trên khép lại, là khởi đầu cho những tháng năm đày đọa sắp đến phủ chụp xuống cuộc đời họ và gia đình họ. Mười ngày biến thành mười năm mà không ai ngờ tới, kèm theo đó là gia đình tan tác, là chia ly, là nước mắt, là đổ vỡ thương đau, những số phận của những con người, những người vợ, những bà mẹ, những đứa con thơ bị cả một thế lực vô hình vùi họ xuống tận bùn đen !!
Tôi, người viết bài này, vào ngày lịch sử đó, là một thanh niên chưa đầy ba mươi tuổi, một sĩ quan trong QLVNCH, có một vợ hai con ( đúng hơn là vợ tôi mới có thai được 5 tháng thằng Út vào ngày tôi đi trình diện ). Gần 4 năm trời, hết trại tù này đến trại khác, thằng Út từ khi ra đời không biết mặt tôi, gánh nặng vừa lo cho chồng không biết sống chết thế nào, tháng nào còn nhận được thư thì mới biết rằng tôi còn sống; phần lo cho hai con, sinh hoạt mưu sinh là đầu đường xó chợ, là những chuyến buôn đường dài may ít rũi nhiều. Ngày tôi về, khi tôi ôm hai con tôi, chúng đẩy tôi ra rồi òa lên khóc. Khi chúng đến trường, những năm tháng đầu tiên đi học, đầu óc ngây thơ của chúng đã bị người ta nhồi nhét vào những hận thù phẩn nộ. Trong ngay cả sách giáo khoa hình ảnh “tên lính ngụy” với bộ quần áo rằn ri, luôn là hình ảnh của bọn xấu. Chúng cũng mơ hồ biết được ba của chúng tại sao phải “học tập cải tạo”, à thì ra thế thực sao? Mẹ chúng phải vất vả, chúng bị phân biệt đối xử, bữa cơm không đủ no. . .vân vân, tất cả những điều tệ hại trên có thể bị qui kết một cách dễ dàng thông qua hình ảnh tên lính ngụy xấu xa !!
Những khẩu hiệu được ra rả suốt mấy thập kỷ, nào là hòa hợp hòa giải dân tộc, đoàn kết đại đoàn kết, khoan hồng. . .vân vân, chỉ là dối trá và bịp bợm. Chúng ta cần, rất cần sự chân thành đủ để chuộc bao lỗi lầm xưa. Cũng không cần phải bắt chước, mô phỏng theo bất cứ hình thức chủ nghĩa nào, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là liệu ta có thực tâm muốn chữa lành những vết thương đó hay không, để cơ thể đủ lành mạnh, không còn đau nhức mỗi khi trời đất trở mùa.
Tất cả, dù sao thì giờ đây đã trở thành quá khứ. Gia đình nhỏ bé của tôi cũng đã ổn định nơi xứ người, con cái tất cả đã trưởng thành, đã là những con người tốt trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tôi viết lại những giòng trên đây không phải để trách móc hoặc phàn nàn, nhưng để nhớ lại một bài học mà mình phải trả bằng máu và nước mắt mới học được, với rất nhiều. . .rất nhiều may mắn. ( Vì chỉ thiếu may mắn một chút thôi thì cái mạng của mình không giữ được, thì cơ hội đâu mà ngồi nhớ nhung vớ vẩn như thế này đây?)
Tháng ba là tháng lập xuân, ngày 30 tháng 4 là đỉnh điểm của mùa xuân, nên người ta gọi đó là “đại thắng mùa xuân”. Nhưng những ai là dân Sàigòn còn nhớ như in hai ngày cuối là 29 và 30 tháng 4, suốt hai ngày, bầu trời Sàigòn đen kịt và dày đặc mây đen u ám. Không một tia nắng nào đủ sức xé toạc đám mây đen tối để mang chút hơi ấm xuống mặt đất đang ngầm rung chuyển bởi cơn địa chấn đe dọa làm sụp đổ tất cả những giá trị truyền thống của tinh thần Việt Nam, thứ định mệnh oái oăm sắp tròng lên đầu lên cổ của cả dân tộc ! Cái mà ai cũng nghĩ là một khi chiến tranh chấm dứt, ta có thể tìm lại hay khôi phục dễ dàng, đó là dân tộc thái hòa. Thế nhưng, ngày hôm ấy chính là kết thúc vĩnh viễn cho giấc mơ ngàn năm ấy !!
Kể từ ngày hôm ấy đến nay, 34 mùa xuân đã trôi qua. . .
* Theo thống kê của quốc hội Hoa Kỳ thì có khoảng 1.300.000 tham gia trong quân đội và chính quyền chế độ cũ. Nếu tính luôn gia đình họ là những người bị ảnh hưởng trực tiếp vì. . .lý lịch, thì số người bị ngược đãi một cách công khai là trên 6 triệu người.
* Sau tháng 4 năm 1975, có trên 150 trại cải tạo được dựng lên từ Bắc chí Nam.
*Số người chết trong trại cải tạo ( không trở về, bị báo là mất tích, trốn trại. .v.v.) là 165.000 người.
PHỤ LỤC: Phiên tòa của “toà án nhân dân” dựng bên trong trại cải tạo, căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh.
( Xử trung úy Ngô Nghĩa binh chủng pháo binh can tội trốn trại ) Tuyên án: Tử hình. Hành quyết tại chỗ.
Căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh, trước 1975 là một căn cứ quân sự ( có cả đường băng dành cho mọi loại phi cơ quân sự ) đã từng là tổng hành dinh cho những cuộc hành quân của QLVNCH nhằm tấn công những vùng hậu cứ của VC trên đất Campuchia vào năm 1970. Sau ngày hiệp định Paris có hiệu lực, 1973 khi quân đội Hoa Kỳ đã triệt thoái hoàn toàn khỏi Việt Nam thì căn cứ này bị bỏ hoang, không có một đơn vị nào trú đóng. Sau tháng 4 1975, căn cứ này được sủ dụng làm trại cải tạo cho một quân số tương đương 4 trung đoàn gồm L1, L2 ,L3 và L4. Trung Ùy Ngô Nghĩa là một Trung Úy thuộc binh chủng pháo binh, là “cải tạo viên” thuộc L4T2, cùng một đơn vị cải tạo với ngưòi viết bài này ( cũng L4T2, nhưng khác khối. ).
Vào hạ tuần tháng mười năm 1975, có nghĩa là số sĩ quan, quân cán chính đã được tập trung “học tập” được trên bốn tháng, thì Ngô Nghĩa trốn trại ( trước đó cũng có một vài vụ trốn trại thành công trót lọt, có nghĩa là không nghe bị bắt lại. ) nhưng thất bại, vài ngày sau đêm anh trốn trại thì cả tiểu đoàn T4 bất ngờ báo động, tập họp điểm danh đột xuất ( đêm anh trốn trại cũng có màn báo động, tập họp điểm danh như thế ) và mọi người được thông báo là anh Ngô Nghĩa sau khi trốn khỏi trại đã bị “nhân dân bắt” giao lại cho ban quản lý trại. Quản giáo trực tiếp của khối anh Nghĩa cùng một số vệ binh áp tải anh Nghĩa đi đến và dừng lại trước từng khối một, để nghe quản giáo ‘hướng dẫn” anh em. . .lên án và kết tội anh Nghĩa. . .”ngoan cố”, “nuối tiếc dĩ vãng”, “chống lại chính sách khoan hồng”, “chống lại nhân dân”. . .Rồi sau đó người ta biệt giam anh. Sau đó không còn nghe nói, hay nhắc nhở đến anh nữa, chỉ nghe phong phanh tin đồn là anh đang bị khai thác điều tra thêm xem còn ai chung vụ nữa không. Không ai thấy mặt, không ai biết tình trạng anh ra sao, mãi cho đến một hôm:
Hôm ấy, sau khi giờ lao động buổi sáng kết thúc, anh em trở về lán trại ăn cơm trưa, thì bỗng nhiên cả trại được lệnh tập họp điểm danh đột xuất. Viên chính ủy của tiểu đoàn, tay cầm một danh sách đến từng khối đọc tên mỗi khối khoảng 20 người ( có nghĩa là toàn tiểu đoàn có khoảng 100 người, trong đó có tôi, và cả L4 là gần 400 người tham dự ) được thông báo cho biết chuẩn bị để được hướng dẫn đi. . .xem toà xử Ngô Nghĩa!
Thật tình thì cho đến giờ phút này, tôi cũng như những người ở cùng khối với anh Nghĩa hoàn toàn không biết rằng có ai báo trước cho anh biết là ngày hôm nay anh bị lôi ra khu đất trống toàn đá đỏ bên cạnh đường băng phi trường dã chiến bên trong căn cứ Trảng Lớn để xử hay không. Và anh có tiên liệu trước bản án tử hình? Riêng chúng tôi, thì chúng tôi đã biết trước bản án trước khi “tòa” tuyên án. Bởi vì, như vừa kể trên, sau khi tập trung gần 100 người cho toàn thể tiểu đoàn T4, chúng tôi được khoảng gần 20 vệ binh áp tải rời khu vực tiểu đoàn, đi bộ hướng về đường băng phi đạo trong căn cứ. Khi sắp đến địa điểm phiên tòa, một bãi đất trống toàn đá đỏ, lác đác vài bụi cây thấp lè tè dưới gối, dưới ánh nắng chói chang như thiêu đốt. Toàn bộ khu vực hiện ra trước mắt, mênh mông hoang vắng như sa mạc, chúng tôi thấy thấp thoáng từ xa những tấm bạt được dựng lên sơ sài làm mái che, chúng run lên và phát ra tiếng kêu phần phật trước gió. Dưới những tấm bạt đó, người ta kê hai chiếc bàn và năm hay sáu chiếc ghế gì đó dành cho “quan tòa”, không phân biệt được ai buộc tội, ai xử án, cả sáu người đều mặc quân phục bộ đội, người mang quân hàm cao nhất là thượng úy, cũng chính là người đọc bản tuyên án sau này. Cách địa điểm của “toà án” khoảng 100 mét, chúng tôi đã thấy khoảng năm hay sáu người đang hì hục đào. . .huyệt, tôi cố tình nhìn quanh quất xem có chiếc quan tài nào để sẵn đâu đó không, nhưng không thấy gì cả ( sau khi bị hành quyết tại chỗ , người ta đem hất xác anh xuống huyệt và lấp đất, không có áo quan gì cả ! )
Sau khi các tiểu đoàn khác lục tục kéo đến và tập trung đầy đủ, tôi thấy 2 chiếc molotova từ hướng bộ chỉ huy trung đoàn chạy đến, rồi ngừng bánh cách địa điểm phiên tòa khoảng 50 mét. Trên xe đầu là Ngô Nghĩa và một số vệ binh, và xe thứ hai là. . .tiểu đội hành quyết. . .
Người ta áp tải anh ra đứng trước và đối diện với dãy bàn của các quan tòa, anh bị trói quặc cánh chỏ, mặt anh xanh mét, gầy giơ xương, anh đỗ gục xuống mặt đất. Hai anh vệ binh chạy đến xốc anh đứng lên, nhưng anh không đủ sức. Cuối cùng, thêm một anh vệ binh nữa chạy đến , tổng cộng là ba người, hai người kèm hai bên, anh còn lại kèm từ phía sau lưng anh Nghĩa. Nhưng anh cũng không thể đứng dậy được, người ta đành để anh ở tư thế quỳ, để nghe tòa xử. Đầu anh ngoẻo sang bên, mắt nhắm nghiền. Anh bị trói thúc cánh chỏ bằng một sợi dây điện từ khuỷu tay này sang khuỷu tay kia. Người ta có thể thấy, cả hai tay anh, từ khuỷu tay xuống đến đôi bàn tay, máu bầm tụ lại khiến cả đôi cánh tay đem sậm lại như hắc ín. Và một trong những “quan tòa” bắt đầu đọc bản “cáo trạng”. Người đọc bản cáo trạng,mang quân hàm thiếu úy,trạc độ ngoài năm mươi, đứng lên giới thiệu từng người trong ban xử án trước khi đọc cái gọi là bản cáo trạng, ông ta người thấp bé, giọng the thé của một người nông dân miền Quảng Trị hay Quảng Bình gì đó rất khó nghe, nhưng đại loại kê lý lịch của anh Nghĩa, với một nội dung bêu xấu anh bằng một tiểu sử của một con người xấu xa về mọi mặt, kể cả đối với gia đình ( nào là có hai vợ, vũ phu, vô đạo đức.v.v ) trước khi đi đến kết luận từ hành vi trốn trại là ngoan cố, chống lại. . .cách mạng và nhân dân !! Rồi cuối cùng bản cáo trạng đi đến đoạn sau cùng. . .” bị cáo đã nhận hết những tội lỗi mình gây ra. Xin tòa hãy trừng phạt nghiêm khắc để làm gương cho kẻ khác…” Không thấy có thêm phần nào nữa, như thẩm vấn nhân chứng, tranh cãi, thẩm vấn bị can,. v.v. như một phiên tòa cần phải có dù chỉ là lấy lệ. Sau khi nghị án khoảng mười phút ( mà lúc ấy họ họi là giờ giải lao!!?? ) Họ tuyên án. Án tử hình !! Không thấy một phản ứng nào, dù rất nhỏ, từ phía anh Nghĩa, tôi nghĩ anh đã chết từ lâu, trước khi bị hành quyết bằng những viên đạn AK quen thuộc. Và lệnh hành quyết được thi hành ngay tức khắc, trước sự chứng kiến của gần 500 con người, mà trên 400 trong số đó là chiến hữu của anh.
Comments
Leave a Reply
